Chúng tôi đặt từng bước chân nặng nề lên triền dốc hướng về phía đỉnh đồi. Ngọn đồi không cao, nhưng thực chẳng dễ dàng sau một đoạn đường dài gập gềnh đá sỏi vừa qua.
Mặt trời đã ở trên đỉnh đầu. Ánh nắng rực rỡ phủ lên mọi cảnh vật. Nắng cao nguyên mùa này không gay gắt mà nhẹ nhàng, ấm áp. Dọc theo lối mòn dẫn đến ngôi nhà nhỏ trên ngọn đồi phủ đầy hoa dã quỳ. Sắc vàng đậm đà của hoa quỳ nổi bật trên nền xanh cây cỏ.
Màu hoa là thế nhưng loài này vốn có cái dáng gầy yếu, mong manh và hơi xao xác. Nếu làm vị khách phương xa đứng chiêm ngưỡng những vạt hoa xoắn xuýt vào nhau, vươn lên trời cao thì thấy thơ mộng, chứ những người mỗi ngày nhìn chúng thì có khi chỉ thấy mỗi cái... nghèo, cái khó, cái hoang dại, tầm thường.
Đón chúng tôi là nụ cười hiền lành, chất phác nhưng cũng rạng rỡ như hoa quỳ của chị. Chị đã ao ước từ rất lâu để có được chuyến viếng thăm này của chúng tôi. Theo bước chị, chẳng mấy chốc, hiện ra trước mắt chúng tôi là một ngôi nhà nhỏ. Đúng hơn đó là một túp lều. Hình dạng của nó thật khó diễn tả vì được chắp nối từ nhiều vật liệu khác nhau.
Bước vào bên trong, nhìn những đồ dùng sinh hoạt hằng ngày của gia chủ cũng chẳng khá gì hơn thân phận của túp lều. Khung cảnh này không khỏi khiến lòng người ta dâng lên nỗi chua xót cho hoàn cảnh khó khăn của những người lao động nghèo.
Từ phía sau túp lều, anh bước ra. Anh cũng đón chúng tôi như tâm tình đón những vị thượng khách. Nụ cười hiền cùng niềm vui hiện rõ trên khuôn mặt và cử chỉ của anh chị khiến chúng tôi chưng hững với cảm giác thương xót lúc ban đầu. Dường như chúng tôi đã lầm. Họ đang rất hạnh phúc. Không thể tìm thấy một chút ưu tư hay ai oán khắc khổ nào trên hai nét mặt rạng rỡ. Mái nhà tồi tàn đã hoàn toàn không làm vơi đi niềm hạnh phúc của họ.
Ngồi quây quần cùng nhau bên đống lửa cháy hồng mà anh chị chuẩn bị để đãi chúng tôi món gà rừng nướng, chị từ từ kể cho chúng tôi nghe câu chuyện đời của anh và chị.
Chị là người dân tộc thiểu số, thất học, dáng dấp lại thô kệch, chẳng biết chưng diện, điệu đà. Cũng vì mặc cảm ấy mà chị thành “gái lỡ thì”.
Anh là người miệt thứ miền Tây lang bạt lên vùng cao nguyên này làm đủ thứ nghề để chăm lo cho gia đình. Chẳng may Trời cho mắc bệnh thập tử nhất sinh. Bao nhiêu công khó dành dùm thành tay trắng. Đời càng thêm nghiệt ngã khi người vợ anh luôn tin tưởng đoạn tình dứt áo ra đi ngay khi anh chẳng còn bao nhiêu cơ may sống sót.
Chị gặp anh trong những ngày như thế. Ban đầu, chị giúp anh vì Đạo Chúa dạy phải yêu thương, giúp đỡ người đồng loại. Không ngờ bệnh tình của anh lại phục hồi nhanh chóng. Chị thương anh vất vưởng, đau đớn trong cảnh khốn cùng. Anh thương chị bụng dạ tốt lành lại nết na, chăm chỉ. Anh muốn cùng chị xây đắp gia đình để mong vá víu lại những mất mát ngày nào. Chị e dè bởi anh lương giáo, còn chị là tín đồ ngoan đạo của Chúa. Chẳng chút ngần ngại, anh xin được học cả Đạo Chúa để theo chị.
Sau thời gian học Đạo. Anh chị về bên nhau theo đúng phép tắc Giáo Hội. Anh thêm vào sau lời kể hồn nhiên của chị bằng những lời từ tận đấy lòng: “Lẽ ra con tưởng mình như người đã chết rồi. Nhờ vợ con đây, con được biết Chúa. Con cũng tin chính Chúa đã cứu lấy mạng sống của con. Được biết Chúa, được theo Đạo Chúa là con được nhận một sinh mạng mới. Con biết ơn Chúa nhiều lắm! Bây giờ mà Chúa có muốn lấy đi mạng sống này của con, con cũng sẵn sàng.”
Nghe anh nói khiến chúng tôi thấy lạnh sống lưng. Bởi niềm tin của anh - một người tân tòng mà vô cùng mạnh mẽ, sâu sắc và xác quyết. Thật cảm động trước những kỳ công Chúa thực hiện cho con người!
Qua lời thăm hỏi của chúng tôi, anh chị còn kể thêm về hành trình gìn giữ đức tin của mình giữa bao khó khăn. Vì đường xá quá xa xôi, anh chị rất buồn khi không thể đến nhà thờ hằng ngày. Nhưng vợ chồng không bao giờ bỏ một ngày lễ Chúa Nhật nào. Anh nói: “Tụi con ở đây không có điện, lắm khi chẳng biết ngày giờ, nhưng con cứ nhẩm đếm từng ngày, chờ đến Chúa Nhật để đi lễ Nhà thờ”.
Chị còn nói thêm: “Ngày nào đi lễ về, ảnh vui lắm, dù không thuộc bài hát nào trong Thánh lễ nhưng cứ nhẩm đi nhẩm lại một câu suốt cả ngày”.
Chị còn đơn sơ kể cho chúng tôi tất cả những chi tiết về đời sống hằng ngày của hai vợ chồng. Rằng anh chị đã phải đối diện với những phản đối từ phía hai gia đình và giờ vẫn đang không ngừng cố gắng để được họ chấp thuận cho tình yêu của mình; rằng anh ốm yếu nhưng vẫn cố gắng làm lụng vì chị, chị thương anh dãi dầu nắng gió nên không ngại khó thường đi chợ mua cho anh món ăn yêu thích; rồi thì vợ chồng tối nào cũng bảo ban, an ủi nhau, cùng nhau đọc kinh tối, phó dâng cho Chúa mọi lo lắng của công việc rồi bình an đi ngủ.
Giọng kể của chị giản dị nhưng khoan thai, duyên dáng như đưa người nghe chúng tôi lạc vào miền cổ tích của một tình yêu.
Tôi nhìn ra đám hoa quỳ đang rung rinh trong gió. Chợt thấy sắc vàng rực lên trong câu chuyện tình. Tình yêu của họ có thể bị thế gian gọi là “rổ rách cạp lại” nhưng tôi coi đó là tình yêu thiêng liêng và vĩ đại.
Tôi nhớ lại người đời hẳn quen với bài hát “một túp lều tranh hai quả tim vàng”. Hình như bây giờ họ xem đó là ảo ảnh chẳng thể có được nơi cuộc sống tôn thờ vật chất, nhưng tôi mãn nguyện vì có cơ hội tận mắt nhìn thấy túp lều và đôi trái tim ấy. Dã quỳ có thể xơ xác, ngả nghiêng dập vùi trong gió bão, nhưng hoa quỳ sẽ không bao giờ nhợt nhạt màu vàng của sức sống và niềm tin. Quỳ có thể không phải là loài hoa cao quý, đài cát nhưng sẽ luôn là biểu tượng của nghị lực vượt qua gian khó cuộc đời.
Ở đó chúng tôi không chỉ thấy có nét đẹp của một tình yêu đôi lứa, mà còn nhận rõ tình yêu của Thiên Chúa đang nâng đỡ những phận người. Tình yêu của họ kết trái đơm hoa chính trong đức tin Công giáo. Anh tìm thấy niềm tin chân chính nhờ tình yêu dành cho chị. Chị cũng tìm thấy tình yêu đích thực mình chờ đợi nhờ niềm tin vào chính Chúa.
Chia tay anh chị khi mặt trời đã khuất sau ngọn đồi. Ánh hoàng hôn vẫn còn vương trên những bông hoa quỳ phía trước ngôi nhà nhỏ. Bước chân chúng tôi rời ngọn đồi mà lòng vẫn cứ muốn ngoảnh lại. Họ đã cho chúng tôi những cảm nghiệm chân thực nhất về tình yêu con người và niềm tin cuộc sống.
Bạn có thể nói với tôi rằng câu chuyện tôi vừa kể chỉ là hy hữu, rằng đó là cổ tích hão huyền giữa thế gian đang đầy dẫy nhiễu nhương. Nhưng tôi luôn tin, ngày mai, khi bình minh tới, tôi sẽ lại nhìn thấy những bông hoa dã quỳ đang căng mình đón nắng chứng minh sức sống mãnh liệt giữa khoảng trời cao xanh bao la.
Quỳ vẫn cứ thế đơm bông...!
(Nhận định: nếu có hình của người trong cuộc thì bài sẽ đầy đủ hơn, sẽ chứng minh được đây không phải là chuyện tưởng tượng, chuyện do AI, hay chuyện cổ tích...)