Ngày nay, các tín hữu trong Giáo hội dường như đã thuộc nằm lòng khẩu hiệu: “ Bản chất của Giáo Hội là truyền giáo” (AG, 2). Ai cũng biết nếu không truyền giáo, Giáo Hội không còn giữ được căn tính thực sự của mình. Thế nên, ở khắp nơi, người ta hô hào truyền giáo. Đã có biết bao nhiêu những hội nghị, chuyên đề, khóa học đào sâu vấn đề rao giảng Tin Mừng. Có thể nói, đứng trước những khó khăn của thời đại mới, thì câu chuyện này của Giáo Hội trở nên cấp bách và sôi động chẳng kém thời sơ khai hay trung cổ.
Thực trạng là thế, nhưng nói đến truyền giáo chắc chắn không ít tín hữu sẽ thấy bối rối hay có thể hổ thẹn khi nhìn nhận cách trung thực vào kết quả đạt được. Rõ ràng, dù đã có rất nhiều cố gắng, sứ mạng rao giảng của các Kitô hữu hiện nay còn khá mờ nhạt và chưa thực sự hiệu quả.
Tác giả xin kể ra đây cảm nghiệm của chính mình về một tấm gương truyền giáo của một nữ tông đồ giáo dân. Câu chuyện của chị như một lăng kính mới để mô tả và làm sáng lên một màu sắc khác của việc truyền giáo. Không đậm đà, hừng hực nhiệt thành nhưng dung dị, và rất đỗi tầm thường của một người phụ nữ Việt.
Mới sớm tinh sương ngày Chúa Nhật, sân nhà thờ còn vắng tanh. Sơ vừa gạt chống xe đã nghe tiếng chào đon đả phía sau lưng. Chẳng cần quay đầu Sơ cũng biết là chị. Sơ chẳng còn lạ gì với giọng nói này. Cũng như bao lần, Sơ lại gặp chị, tay cầm chổi, tay xách bao rác nặng, chiếc áo dài tối màu giản dị, tà trước tà sau vắt vẻo vào lưng quần. Chị hồ hởi hỏi thăm Sơ đủ điều. Sơ đề nghị giúp một tay thì chị nhất định từ chối với lý do sợ Sơ sẽ làm bẩn chiếc áo dòng trắng. Dăm ba câu chuyện xong chị lại vui vẻ tạm biệt Sơ để về chuẩn bị bữa sáng cho anh chồng vốn đang mắc bệnh hiểm nghèo.
Chuẩn bị bước vào thánh lễ dành cho thiếu nhi, Sơ lại gặp chị với diện mạo khác. Chị chỉnh chu áo trắng, quần tây, khăn quàng giáo lý viên, đang hướng dẫn các em ổn định trong nhà thờ. Sau đó, chị sẽ lại tiếp tục công việc của mình với những bài giảng giáo lý hăng say và nhiệt huyết. Chị đã ngoài năm mươi, và ngoại hình của một người phụ nữ lam lũ thì chẳng có gì cuốn hút trong trang phục năng động của các giáo lý viên trẻ. Thế nhưng nhìn cách chị cùng đọc kinh với các em, nhìn cách chị chăm chú tận tình với từng câu từng chữ trong sách Giáo lý, Sơ thấy gương mặt ấy sáng bừng và thực sự nổi bật. Nét đẹp bình dị ấy có thể sẽ rạng rỡ hơn cả Sơ, nếu Sơ chỉ biết xúng xính trong chiếc áo dòng trắng mà đánh mất nét đẹp từ bên trong.
Lần khác, trước khi bước vào một thánh lễ chiều ngày thường nhật, Sơ lại gặp chị vội vàng bước đến chào hỏi. Chị kể sơ nghe chuyến hành trình cùng chồng đi bệnh viện mấy ngày vừa qua. Từ trong ánh mắt, Sơ biết chị đang rất mỏi mệt nhưng chẳng hề vơi niềm hy vọng chạy chữa cho người chồng. Chị còn kể hôm nay vội vàng vì ở nhà lo chuẩn bị bữa cơm cho đứa con riêng của chồng từ xa đến thăm.
Dần dần, qua những mảnh chuyện chào hỏi vắn vỏi như thế, Sơ mới biết chị đôn hậu và kiên cường nhường nào. Chị vốn xuất thân gia đình học thức, gặp anh khi tuổi quá tứ tuần. Anh là lương dân đã có gia đình và khi quyết định kết duyên với chị thì mới được rửa tội. Chị đón nhận anh và cả những đứa con riêng bằng tất cả sự chân thành. Chị luôn canh cánh bên mình nỗi trăn trở cho đức tin của chồng vì anh là tân tòng.
Chị đã chẳng đi đâu truyền giáo, chỉ quanh quẩn ở nhà truyền giáo cho chồng và âm thầm truyền giáo trong việc bổn phận ở giáo xứ. Bằng đấy là đã quá vĩ đại cho cuộc đời một người tín hữu..
Sau thời gian bạo bệnh, anh ra đi bỏ lại chị một mình trong căn nhà trống trải. Nhìn chị xanh xao hốc hác mà vẩn vui vẻ ân cần trò chuyện Sơ thấy cay xè khóe mắt. Chị tràn đầy hi vọng nói với Sơ rằng đã yên tâm phúc phần của chồng, giờ sẽ có nhiều thời gian chu toàn công việc của giáo xứ.
Ngày Sơ chào tạm biệt mọi người để đi nhận sứ vụ mới, chị nhẹ nhàng cầm lấy tay Sơ, chị trao cho Sơ những lời chúc lành thực sự giản dị và đáng quý vô cùng. Bàn tay thô ráp, hằn sâu dấu vết của cuộc đời lam lũ nắm chặt lấy tay Sơ. Sơ cảm nhận được một nguồn năng lượng truyền giáo dào dạt tỏa lan từ đôi tay ấy. Sơ nói với lòng mình, đây mới chính là một người nữ anh hùng của sứ mạng truyền giáo. Đây mới chính là những gì Giáo hội đang cần.
Chị còn dúi vào tay Sơ chiếc phong bì, nói rằng biếu sơ ít quà chia tay. Chị nói thương Sơ trẻ trung hiền lành mà phải vất vả phục vụ ở đây. Phụ nữ Việt Nam là thế, đem hết cả ruột gan ra mà sống trọn tình vẹn nghĩa với mọi người. Sơ để lại món quà cho quỹ thiếu nhi với niềm tin “đồng bạc của bà góa nghèo” ấy sẽ sinh lợi ích dồi dào cho giáo xứ.
Từ hình ảnh của người tông đồ giáo dân này, người ta hiểu rằng công cuộc Truyền giáo của Hội Thánh không nhằm mục đích truyền bá một ý thức hệ tôn giáo, cũng không để biểu diễn lòng thương xót của Chúa như lối công nghệ quảng cáo thời nay, nhưng chỉ giản đơn là làm cho Đức Giêsu hiện diện trong thế giới. Chị đã để cho lòng thương xót của Thiên Chúa lan tỏa trên chồng chị, trên môi trường xứ đạo mà chị hiện diện. Một lòng thương xót không cần phô trương, hô hào nhưng tỏa ngát hương thơm bình dị.
Chính sự hiện diện âm thầm và kiên cường với hiện tại của mình, chị đã sống như một lời đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa. Từ đời sống giản dị của chị, chúng ta học được rằng:
Chúng ta hiện hữu là có mục đích, và ơn gọi tối hậu của mình là nên thánh ngay trong cuộc sống thường nhật.
Ngay từ khi dựng nên chúng ta, Thiên Chúa đã phú ban cho mỗi người, mỗi dân tộc một nét đẹp riêng, hãy để cho nó được tỏa sáng trong sứ mạng truyền giáo.